Việt Nam thuộc Top các nước đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp Nhật

Vay tiền online

65,8phần trăm doanh nghiệp Nhật tại Việt Nam làm ăn sở hữu lãi

Theo ông Takeo Nakajlặnga – Trưởng đại diện Jetro Hà Nội, kết quả khảo sát tại Việt Nam cho thđó, tỷ lệ DN Nhật trả lời “sở hữu lãi” chiếm 65,8phần trăm, tăng 0,5 điểm phần trăm so với năm trước (năm hngười nào0một8 tỷ lệ này là 65,3phần trăm). Dựa trên thời khắc thành lập thì Việt Nam đang sở hữu nhiều tổ chức tương đối trẻ nhưng tỷ lệ sở hữu lãi cao. Với con số này thì Việt Nam được xếp vào danh sách Top những nước đem lại lợi nhuận cao trong số hngười nào0 quốc gia sở hữu những DN Nhật hoạt động kinh doanh.

Xét tỷ lệ lợi nhuận theo năm thành lập thì với những DN nghình chế tạo mới thành lập, do giá tiền đầu tư thiết bị to nên tỷ lệ lợi nhuận thấp nhưng những DN thành lập trước hngười nào0một0 lại ổn định và hơn 80phần trăm DN này kinh doanh sở hữu lãi. Các DN vừa và nhỏ thành lập, phần to là nghình chế tạo nên tỷ lệ lợi nhuận thấp hơn so với DN to, nhưng về trong khoảng thời gian dài lại duy trì mức tăng trưởng cao hơn.

Ông Takeo Nakajlặnga cũng cho biết, lúc được hỏi về ước tính lợi nhuận kinh doanh năm hngười nào0hngười nào0, 5một,6phần trăm DN Nhật dự đoán lợi nhuận kinh doanh trong năm hngười nào0hngười nào0 sẽ được cải thiện. Đây là chỉ số cho thđó tiềm năng tăng trưởng cao ở Việt Nam. Tỷ lệ này cao hơn triển vọng tại những nước Singapore, Campuchia, Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Philippines, chỉ xếp sau Myanmar (56,hngười nàophần trăm) và Ấn Độ (53,4phần trăm).

Xét lợi thế về môi trường đầu tư, giống như năm trước, khảo sát cho thđó “quy mô thị trường, tính tăng trưởng” là lợi thế to nhất với tỷ lệ DN lựa chọn là 66,8phần trăm. Tiếp đó là “tình hình chính trị, xã hội ổn định” và “môi trường sống lý tưởng cho người nước ngoài”. Trong số hngười nào0 quốc gia Jetro thực hiện khảo sát, Việt Nam đứng thứ 6/hngười nào0 về quy mô thị trường, khả năng tăng trưởng và xếp vị trí 6/hngười nào0 về tình hình chính trị, xã hội ổn định.

Phân tích về kết quả này, ông Đỗ Nhất Hoàng – Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, xu hướng mở rộng đầu tư của những DN Nhật được duy trì ở mức cao với tỷ lệ DN sở hữu lợi nhuận duy trì ở mức cao là rất tích cực. Việt Nam và Nhật Bản sở hữu hiệp nghị EPA (Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản), CPTPP (Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) và EVFTA (Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU) đã được Nghị viện châu Âu thông qua, tạo ra lợi thế khó khăn lúc đầu tư vào Việt Nam để xuất khẩu ra bên ngoài trong thời kì tới.

Chỉ khoảng 0,mộtphần trăm DN Nhật sở hữu ý định rút khỏi thị trường Việt Nam

Cũng theo ông Takeo Nakajlặnga, DN Nhật vẫn luôn coi Việt Nam là một điểm tới đầu tư quan yếu trong khu vực ASEAN. Điều này được thể hiện bằng tỷ lệ DN sở hữu kế hoạch triển khngười nào hoạt động kinh doanh trong năm hngười nào0hngười nào0 và trong thời kì tới.

Khảo sát cho thđó, sở hữu tới 63,9phần trăm DN phản hồi “sở hữu định hướng mở rộng kinh doanh”, do kỳ vọng to về việc “gia tăng doanh thu”. Dù là DN lâu đời thì hơn nửa trong số những DN đó sở hữu phản hồi là “mở rộng”. Tỷ lệ này so với khảo sát năm hngười nào0một8 sở hữu giảm một tí do tình hình suy giảm chung trên toàn cầu, nhưng vẫn đứng đầu trong khối ASEAN. Tỷ lệ này tại Singapore là 43,9phần trăm, Indonesia là 50,7phần trăm, Thái Lan là 44,7phần trăm, Malaysia là 4hngười nào,mộtphần trăm…

Theo ông Takeo Nakajlặnga, sở hữu thể nói phần to những DN Nhật đều thẩm định cao về môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và trong khảo sát này. Tỷ lệ DN Nhật sở hữu ý định rút khỏi thị trường Việt Nam chỉ khoảng 0,mộtphần trăm.

Trong số những hạng mục rủi ro hàng đầu trong đầu tư, nhiều hạng mục sở hữu cải thiện tương đối mạnh so với kết quả khảo sát năm trước từ 4,9 tới 6,8 điểm phần trăm. Cụ thể là rủi ro “thuế và thủ tục thuế phức tạp” cải thiện giảm cao nhất, giảm 6,8 điểm phần trăm so với năm trước, rủi ro về “thủ tục hành chính phức tạp (cấp phép)” giảm 4,9 điểm phần trăm, rủi ro về “hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, vận hành thiếu sáng tỏ” giảm 5,6 điểm phần trăm.

Liên quan tới những trắc trở trong hoạt động kinh doanh, dù tỷ lệ đã giảm so với năm trước nhưng vẫn sở hữu khoảng 6mộtphần trăm DN nêu ra vấn đề về “giá tiền nhân lực tăng” và tỷ lệ nghỉ việc của viên chức (38,6phần trăm), “khó khăn trong thu tìm nguyên vật liệu, linh kiện tại nước sở tại”, “nghình công nghiệp phụ trợ còn non kỉm, chưa phát triển”.

Ông Takeo Nakajlặnga cũng nhấn mạnh, khó khăn hiện nay với những DN Nhật là vấn đề nhân lực, tuyển dụng. Giải quyết được bài toán về nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan yếu để cân nhắc việc sở hữu nên tiếp tục mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam hay ko.

Trước những hạn chế này, ông Đỗ Nhất Hoàng cho biết, vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 50 về thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong gingười nào đoạn mới. Trên cơ sở vật chất đó, Chính phủ đã ban hành một chương trình hành động để những địa phương nhất loạt sở hữu những chương trình cải thiện môi trường đầu tư…

Những định hướng chính sách trong gingười nào đoạn tới theo hướng đầu tư sở hữu lựa chọn, lđó hiệu quả, năng suất, chất lượng, môi trường, khoa học…. là yếu tố thẩm định hiệu quả của FDI. Những ý thức đó rất thích hợp với nhu cầu, xu thế khảo sát của Jetro đối với Việt Nam. Việc triển khngười nào Nghị quyết 50 sẽ khắc phục được những hạn chế mà những DN Nhật đã nêu lên./.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *